EMDR (Eye Movement Desensitization & Reprocessing) – một cách tiếp cận trị liệu tâm lý mới

EMDR chủ yếu hướng đến những người có một sự biến đổi đáng kể các hành vi, một cách có ý thức hay vô thức, là hệ quả của một chấn thương tâm thần trong quá khứ (tai nạn, bị mưu hại, xâm kích, áp lực tinh thần hay thể chất, bạo lực…). Những người này thường xuyên sống lại các sự kiện chấn thương đó dưới dạng chớp nhoáng, hay các giấc mơ, và có thể có các phản ứng mạnh hay thiếu kiểm soát, những phản ứng này dẫn đến sự thay đổi một cách đáng kể các thói quen trong cuộc sống hàng ngày của họ. Những phản ứng này, ngay cả khi được coi là giải pháp phù hợp khi chấn thương, thì chúng cũng không được coi là phù hợp sau chấn thương.

Những biểu hiện thường xảy ra nhất đối với trạng thái này là:

  • Khủng hoảng lo hãi
  • Suy sụp, trầm uất
  • Hồi tưởng chớp nhoáng
  • Mất ngủ
  • Trạng thái báo động thường trực
  • Khó tập trung
  • Khó khăn trong quan hệ tình dục
  • Khó khăn trong các mối quan hệ
  • Lo hãi vô lý
  • Không ổn định về mặt cảm xúc
  • Không có khả năng chịu đựng tất cả những điều gợi nhắc lại tình huống gây chấn thương
  • Các nỗi ám sợ

emdr-schema

EMDR : một phương pháp thực sự?

Di chuyển đôi mắt để chữa lành tinh thần? Đó là thách thức của EMDR, phương pháp được khởi xướng bởi nhà tâm lý học người Mỹ Francine Shapiro, tác giả của cuốn sách Đôi mắt để chữa lành vừa được xuất bản tại Pháp. Các kết quả thật đáng ngạc nhiên. Với điều kiện sử dụng kỹ thuật này một cách có ý thức.

Một cách tình cờ, trong một cuộc đi dạo vào tháng 5 / 1987, nhà tâm lý học người Mỹ Francine Shapiro đã phát hiện ra rằng, “những suy nghĩ tiêu cực đơn giản có tính ám ảnh” biến mất khi cô làm cho đôi mắt của cô di chuyển tới lui thật nhanh từ trái sang phải. Cô thực nghiệm những điều đó trên các bệnh nhân của cô và tạo ra EMDR, với những kết quả rực rỡ – nhất là đối với các tình trạng căng thẳng sau chấn thương (tâm thần) (ESPT) mà các nạn nhân phải chịu đựng về những xung đột, những xâm hại, bạo lực về tình dục hay những thảm họa về thiên nhiên.
Trở thành nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu trí tuệ của Palo Alto, tiến sĩ Shapiro đã nhận được giải thưởng Sigmund Freud vào năm 2002, giải thưởng cao nhất về tâm lý trị liệu. Cùng lúc đó, 60 ngàn nhà thực hành được đào tạo EMDR trên khắp 80 quốc gia, một hiệp hội nhân đạo ra đời để hỗ trợ sau các thảm họa lớn. Các nghiên cứu về ESPT dưới sự hướng dẫn của các tổ chức của Mỹ trên các cựu chiến binh đã khẳng định hiệu quả của EMDR. Những người được trị liệu cho đến nay được tính đến con số nhiều ngàn người (ở Mỹ, mỗi nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của các thảm họa, tai nạn máy bay… có cơ hội được điều trị kịp thời bằng EMDR).

KHI NÀO?


Sau chấn thương, sang chấn
Phương pháp không được chỉ định đối với trường hợp bị sốc nặng, nhưng được chỉ định đối với những sang chấn nhẹ hơn, như là những kinh nghiệm đau buồn, để lại những ký tức mang tính chịu đựng. “Đi tư vấn vì những nỗi lo lắng và đau buồn mà tôi chẳng tìm được từ đó bất kỳ nguyên nhân nào, Cécile kể, tôi đã chọn một ký ức đau buồn mà tôi phải chạy trốn. Sau một loạt những “lục soát, ra quét” về vấn đề, tôi cảm thấy nỗi đau khổ trở nên mạnh hơn ở 2 chân tôi. Nhà trị liệu của tôi đã yêu cầu tôi xem xét các ngón tay và trả lời:”OK, chúng ta sẽ làm cho nó biến mất!” Nỗi đau khổ và cảm xúc liên quan tới ký ức đã biến mất trong một thời gian rất ngắn. Sau đó, chúng tôi đã thiết lập một niềm tin tích cực thay thế cho niềm tin tiêu cực có liên quan tới cảm xúc này. “Tôi trống rỗng” được thay thế bằng “tôi làm một người khỏe mạnh”. Đột nhiên, rất bình tĩnh, tôi cảm nhận hơi thở như chưa bao giờ có trước đây.”
EMDR có thể hiệu quả trong các kiểu bệnh khác, như chứng nghiện ma túy, chứng chán ăn, hay chứng trầm uất. “Phương pháp này mở ra những triển vọng mới to lớn, như bệnh trầm cảm không có nguyên nhân chấn thương hay chứng tâm thần phân liệt giai đoạn đầu”, Jacques Roques, một nhà tâm lý học, nhà phân tâm, và phó chủ tịch hiệp hội EMDR – Pháp, giải thích. Chỉ các trường hợp loạn thần, tình huống tự tử và các khó khăn về tim mạch nằm trong số các chống chỉ định.

NHƯ THẾ NÀO?


Phân tách cảm xúc và ký ức.
Ký ức và cảm xúc tiêu cự chống lại niềm tin tích cực. Liệu bí mật nằm trong sự căng thẳng giữa các biểu hiện mâu thuẫn; trong sự đánh giá, xem xét nhiều lần sự kiện; hay trong sự rà quét bí ẩn của mắt? Marie, giáo viên tiểu học, khoảng 30 tuổi, đưa ra những chi tiết liên quan: “khi ở trạng thái sống lại ký ức và với cảm xúc mà sự kiện gây ra, tôi trở nên cố định các chuyển động mà nhà trị liệu đang thực hiện với tay của mình, từ trái sang phải. Khoảng mười lăm lần tới lui một cách có nhịp điệu, ở khoảng rộng cỡ 1 mét. Sau đó, chúng tôi ngừng và nói lại về sự kiện và cảm xúc của tôi. Tôi có cảm giác rằng nhà trị liệu tìm cách cho tôi hoàn toàn trở lại tình huống đó. Sau lượt chuyển động thứ hai, tôi cảm thấy rất khác, yên bình hơn. Chúng tôi lại bắt đầu lại 2 lần nữa, với lần nghỉ ở giữa để đánh giá lại mức độ của cảm xúc. Cuối cùng, tôi cảm thấy được xoa dịu.”

“Có thôi miên ở trong đó, và rất nhiều thứ mô phỏng theo sophrologie (thư giãn tâm thể),theo chủ nghĩa hành vi và khoa học nhận thức”, Francine Shapiro nói. Nhưng ký ức về sang chấn không tự nó tiêu tan được, không một tiếng vỗ tay nào có thể xóa bỏ ngay cả một khoảng thời gian. Sự dễ chịu không đến từ ám thị hay thư giãn, và cũng không phải bằng ít nhớ tới sự kiện sang chấn. Nó không nhờ vào từ ngữ, hình ảnh hay âm thanh như trong phần lớn các liệu pháp trị liệu khác. “Nó hoàn toàn khác, Marie giải thích. Tôi ở đúng trung tâm của cảm xúc, người ta gọi lại cảm xúc đó, và dần dần, cảm xúc đó rời bỏ chúng tôi, hay ít nhất là nó thu gọn lại ở đâu đó và không gây đau khổ cho tôi nữa. Người ta vẫn biết cảm xúc là như vậy, rằng người ta đã trải qua nó, nhưng đó chỉ còn là ký ức.”. “Tôi nhìn lại quá khứ theo một cách khác, Claire, 50 tuổi, nhà tư vấn, nhấn mạnh. Thay vì phải chịu đựng, tôi cảm thấy được bảo vệ và trở nên linh hoạt hơn.”

TẠI SAO?


Làm cảm xúc trở nên im lìm.
Ngay cả nếu EMDR dựa trên định đề rằng: tinh thần, cũng giống như cơ thể, sở hữu khả năng tự chữa lành, người ta cũng có thể đặt ra một câu hỏi đơn giản như vậy. Câu trả lời nằm ở khái niệm mới của chấn thương, có liên quan tới thần kinh học. “Mỗi sự kiện gây đau khổ để lại một dấu vết trên vỏ não, David Servan-Schreiber, chủ tịch hiệp hội EMDR Pháp nói. Điều này gây ảnh hưởng tới việc “tiêu hóa”, việc mà cho phép các cảm xúc đi kèm ký ức tự trở nên im lìm, bất động. Trừ khi sự chấn thương quá mạnh hoặc diễn ra tại thời điểm mà chúng ta rất dễ bị tổn thương. Trong trường hợp đó, hình ảnh, suy nghĩ, âm thanh và các cảm xúc đi kèm sự kiện được lưu trong vỏ não, và sẵn sàng được kích hoạt lại để gợi nhớ tới sang chấn. Trong EMDR, các chuyển động nhãn cầu “giải phóng” các thông tin sang chấn và kích hoạt lại hệ thống chữa lành tự nhiên của vỏ não để nó có thể hoàn tất công việc của nó.”

Không khẳng định sự chắc chắn, Francine Shapiro đề xuất một sự liên quan giữa EMDR và giấc ngủ có chuyển động nhanh của mắt, đây là thời điểm người ta mơ, là lúc người ta sắp xếp lại các phần của trí nhớ. Bởi vì hiển nhiên, tất cả mọi điều đều dựa trên trí nhớ, trên sự mã hóa các ký ức và các cảm xúc đi kèm. Điều mà EMDR quan tâm, đó là “định dạng lại” sự mã hóa này. Bị chìm đắm với quá khứ để có các nhận thức về cảm giác tại thời điểm xảy ra sự kiện, do các kích thích về cảm giác, bệnh nhân bị hướng tới việc tập trung hoạt động của não vào thời điểm hiện tại. Sự phân chia này sinh ra khả năng xử lý lại sự sang chấn bằng sự phân chia cảm xúc và ký ức. Do đó mà thực tế là nó không biến mất. Nó chỉ giải phóng trách nhiệm về cảm xúc, ví dụ như sang chấn khi mất người thân.

VỚI AI?


Lựa chọn một nhà trị liệu phù hợp.
Sự kích hoạt lại chấn thương không phải là không có rủi ro. “Rất nhiều thứ gợi lại giữa các buổi làm việc, Cécile kể. Ví dụ, tôi chịu đựng một sang chấn từ khi còn nhỏ, điều mà tôi đã hoàn toàn quên mất nó.” Một sang chấn có thể ẩn dấu dưới nó một điều gì đó khác, không cần thiết thực hành EMDR với một nhà phân tâm hay một nhà tâm lý học thuần túy.

EMDR NÓI VỀ CÁI GÌ?


EMDR : Giải cảm ứng và thiết lập (lập trình) lại bằng các chuyển động nhãn cầu.
NGUYÊN LÝ: “Nếu một sự kiện gây đau khổ là khó “tiêu hóa” bởi vì quá bạo lực, các hình ảnh, các âm thanh và các cảm xúc có liên quan tới sự kiện được lưu giữ ở trong não, và sẵn sàng được kích hoạt lại để gợi nhớ lại sang chấn. David Servan-Schreiber, nhà tâm thần học giải thích. Các chuyển động nhãn cầu giải phóng các thông tin gây sang chấn và kích hoạt lại hệ thống chữa lành tự nhiên của não để nó hoàn tất công việc của nó”.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: